Tiêu khát là bệnh gì?

Bệnh tiêu khát hay còn gọi là bệnh tiểu đường được cả y học cổ truyền và Tây y hiện đại coi là một trong những bệnh mãn tính. Bệnh tiêu khát nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ biến chứng gây nên các căn bệnh nguy hiểm về tim mạch, thận, mắt, thần kinh, nhiễm trùng… và có thể dẫn đến tử vong.
Bệnh tiêu khát là gì?
Bệnh tiểu đường hay còn gọi là đái tháo đường thuộc phạm trù “tiêu khát” của y học cổ truyền. Gọi là bệnh tiêu khát vì tân dịch (các chất dịch bên trong cơ thể) bị đốt cháy (tiêu) đòi hỏi cơ thể phải ăn nhiều, uống nhiều để bù đắp lại tân dịch (khát). Bệnh nhân ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, gầy nhanh và trong nước tiểu có nhiều đường nên ruồi và kiến bâu vào.
Bệnh tiêu khát là tên gọi khác của bệnh tiểu đường, đái tháo đường
Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây ra bệnh tiêu khát là do ăn uống không điều độ, nhiều chất béo, chất ngọt; nguyện vọng tình cảm mất điều hòa; lao động, tình dục quá độ dẫn tới thận âm suy hư, phế vị táo nhiệt. Bệnh kéo dài lâu ngày, âm tổn tới dương, dương hư hàn ngưng có thể dẫn tới ứ huyết ở bên trong. Còn theo Tây y, bệnh tiểu đường tiêu khát là do sự thiếu hụt insulin (hoóc môn do tuyến tụy tiết ra), khiến lượng đường trong máu tăng cao và dẫn đến các rối loạn chuyển hóa khác.
Triệu chứng bệnh tiểu đường tiêu khát
Khi mắc bệnh tiêu khát, bệnh nhân có rất nhiều triệu chứng nhưng về cơ bản có thể nhận biết rõ nhất 7 triệu chứng sau:
1. Khát nước: Bệnh nhân thấy khát nước quá mức bình thường, khô miệng ngay cả sau khi vừa uống nước xong.
2. Giảm cân hoặc tăng cân bất thường: Khi mắc chứng tiêu khát, người bệnh có thể bị tăng cân hoặc giảm cân bất thường, kèm theo cảm giác mệt mỏi. Điều này có thể do sự tăng hoặc giảm hoạt động của tuyến giáp.
Khi có dấu hiệu như khát nhiều, tiểu nhiều, ăn nhiều,
bạn nên đi khám ngay xem có phải bệnh tiểu đường không
3. Thường xuyên đi tiểu: Bệnh nhân hay đi tiểu và thường đi ngay sau khi uống nước khoảng 15 – 20 phút. Tuy nhiên, cũng có nhiều nguyên nhân khác gây ra đi tiểu nhiều như ăn quá nhiều đồ hải sản nên khi có triệu chứng đi tiểu nhiều, người bệnh cần đi khám để xác định rõ có phải là do bệnh tiểu đường không.
4. Mờ mắt: Bệnh nhân gặp vấn đề về thị giác, tiểu đường tiêu khát có thể gây ra mù tạm thời, đôi khi là mù vĩnh viễn.
5. Buồn nôn: Người bệnh có những biểu hiện nôn đi kèm hoặc không nôn.
6. Vết thương lâu lành: Da dễ bị thâm tím, tổn thương, loét khi va chạm nhẹ và các vết thương lâu lành hơn bình thường.
7. Nhiễm trùng: Phụ nữ bị nhiễm trùng âm đạo và nam giới bị nhiễm trùng nấm men khi mắc tiểu đường tiêu khát.
3. Phân loại bệnh tiểu đường tiêu khát
Đông y gọi là bệnh tiêu khát còn Tây y gọi là tiểu đường hay đái tháo đường. Tây y chia bệnh tiểu đường làm 3 thể gồm: Tiểu đường type 1, tiểu đường type 2 và tiểu đường thai kỳ ở phụ nữ mang thai.
- Tiểu đường type 1: Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi, người gầy, thường xuất hiện trước tuổi 30 nhưng cũng có thể xảy ra ở bất cứ tuổi nào. Bệnh có các biểu hiện như tiểu nhiều, ăn nhiều, uống nhiều và gầy nhiều.
Tiểu đường type 2 thường gặp ở người thừa cân, béo phì
- Tiểu đường type 2: Thường xuất hiện sau tuổi 40, thường gặp ở người mập phì. Thể bệnh này có các triệu chứng cơ bản như tiểu nhiều, uống nhiều, mờ mắt, có cảm giác như kiến bò ở đầu ngón chân, ngón tay. Tuy nhiên, ở nhiều bệnh nhân, các triệu chứng thường âm ỉ nên bệnh thường phát hiện tình cờ, phát hiện muộn.


- Tiểu đường thai kỳ: Bệnh gặp ở một số phụ nữ mang thai và chấm dứt sau sinh. Tuy nhiên, phụ nữ bị tiểu đường thai kỳ có nhiều khả năng phát triển thành bệnh tiểu đường type 2 sau này.
Xem thêm…

Phòng ngừa bệnh tiểu đường

 Có một thực trạng là số lượng người bị đái tháo đường trên thế giới đang gia tăng với tốc độ đáng ngại, họ phải đối mặt với tình trạng chung sống cả đời với thuốc và kiểm soát lượng đường trong máu, rất dễ biến chứng nhưng nguy hiểm hơn là có tới 65% số bệnh nhân còn chưa biết mình mắc bệnh. Tuy vậy, chúng ta hoàn toàn có thể phòng ngừa căn bệnh này với quá trình hình thành những thói quen tốt.

Giảm trọng lượng. Chỉ cần giảm được 5% số cân nặng, cho dù là ở những người béo phì cũng có thể giảm nguy cơ bị tiểu đường tới 70%. Trung bình giảm được 2-3 kg là tránh được nguy cơ một cách đáng kể. Vì thế, hãy kiểm soát lượng tiêu thụ calo mỗi ngày và nên có chế độ ăn uống để có thể giảm cân một chút cũng được.

Đi bộ càng nhiều càng tốt, nếu không có tác dụng giảm cân thì cũng làm cho bạn khỏe hơn. Các nhà khoa học ở Phần Lan đã chứng minh, những ai tập luyện khoảng 4 tiếng một tuần, trung bình 35 phút mỗi ngày có thể giảm nguy cơ bị đái tháo đường tới 80%. Tại sao đi bộ lại có tác dụng kỳ diệu đến vậy, nguyên nhân là vận động giúp cơ thể sử dụng hormone insulin hiệu quả hơn bằng cách tăng số lượng cơ quan thụ cảm insulin vào tế bào. Insulin giúp vận chuyển đường máu vào tế bào, địa chỉ cần đến để cung cấp năng lượng và dinh dưỡng, nếu không nó sẽ quẩn quanh trong mạch máu, bám dính vào thành mạch máu dần dần sẽ sinh ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Kết hợp hoạt động và nghỉ ngơi hợp lý. Bắt đầu ngày mới với yoga, tập thiền hay đi bộ. Trước khi bắt tay vào hoạt động nào đó như trả lời điện thoại, khởi động xe, cho con ăn, hãy hít sâu và thở ra thật chậm 3 lần. Chủ nhật, hãy dành trọn ngày để nghỉ ngơi, vui vẻ cùng gia đình, tránh dành cả ngày vào những việc lặt vặt như mua sắm, làm thêm hay dọn dẹp nhà cửa…

Ngủ ngon cũng là cách ngăn ngừa đái tháo đường. Một nghiên cứu của Đại học Yale, Mỹ đối với 1.709 nam giới phát hiện những ai thường chợp mắt chưa đầy 6 tiếng mỗi ngày có nguy cơ mắc bệnh cao gấp hai lần bình thường. Khi mất ngủ, hệ thống thần kinh bị rối loạn sẽ tác động tới hormone kiểm soát lượng đường huyết. Để ngủ ngon, tránh uống cà phê buổi tối, xem tivi quá khuya và hãy gác công việc lại.
Xây dựng mối quan hệ tốt và tránh căng thẳng. Bệnh tiểu đường thường tấn công phụ nữ sống độc thân với tỷ lệ cao hơn 2,5 lần so với những người sống cùng bạn đời hay con cái. Điều này xuất phát từ vai trò của tình trạng hôn nhân - gia đình đối với quá trình rối loạn khả năng chuyển hóa glucose dẫn tới đái tháo đường. Riêng tình trạng căng thẳng mạn tính sẽ làm cho lượng đường huyết tăng đột ngột. Khi bị stress, cơ thể sẽ có phản ứng tức thì, thể hiện ở chỗ tim đập nhanh hơn, nhịp thở nhanh, dạ dày thắt lại, đặc biệt nếu tế bào ở dạng đề kháng insulin, đường sẽ bị dồn ứ trong máu nên lúc nào cũng ở mức cao. Vì thế, tránh căng thẳng là một liệu pháp quan trọng để kiểm soát lượng đường trong máu.

Chế độ ăn lý tưởng: Tăng cường ăn rau, giảm chất kích thích như rượu, bia, cà phê. Một nghiên cứu của Đại học bang Arizona, Mỹ cho thấy, những người bị đái tháo đường type 2 và những người bị tiền đái tháo đường sẽ có mức đường huyết thấp hơn nếu họ dùng khoảng 2 thìa giấm trước khi ăn bữa chính. Lý do là giấm chứa axit axetic có thể khử một số enzym tiêu hóa tinh bột, làm chậm quá trình hấp thu carbohydrate. Vì thế, món rau trộn ít dầu và giấm rất có lợi cho sức khỏe, là món ăn lý tưởng để khai vị. Ngoài ra, cần cân nhắc món thịt đỏ và thức ăn qua chế biến như xúc xích, thịt xông khói bởi hàm lượng cholesterol trong các loại thực phẩm này có thể liên quan đến nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường. Nếu có thể, năng sử dụng món ăn có hương vị quế, bởi các nhà khoa học Đức đã chứng minh quế rất có tác dụng kiểm soát đường huyết.
Một xét nghiệm máu đơn giản về đường huyết sẽ giúp con người ta biết được những dấu hiệu sớm của bệnh tiểu đường, từ đó có những thay đổi về chế độ ăn uống và tập luyện hợp lý. Những đối tượng nào nên thử đường huyết: Người trên 45 tuổi, với độ tuổi thấp hơn nhưng có nguy cơ đáng ngờ như béo phì, tiền sử gia đình, huyết áp và cholesterol trong máu cao. Bình thường, mỗi xét nghiệm cách nhau khoảng 3 năm, nếu ở giai đoạn tiền đái tháo đường, khoảng cách giữa mỗi xét nghiệm có thể gần hơn, từ 1-2 năm.
Xem thêm…

Tránh họa “rụng” chân cho người tiểu đường

Nếu kiểm soát tốt đường huyết và biết cách chăm sóc bàn chân, người bệnh tiểu đường có thể ngăn ngừa được các biến chứng xấu cho chân.

Sống khoa học

Người bệnh tiểu đường không nên đi chân trần vì những vật nhọn, nóng... có thể làm tổn thương nhanh chóng bàn chân. 
Ở người bệnh tiểu đường, bàn chân rất dễ viêm nhiễm. Các vết thương nhỏ có thể trở thành trầm trọng, thậm chí phải cắt bỏ chân. Một trong những nguyên nhân là các mạch máu nhỏ bị tắc nghẽn và các dây thần kinh bị tổn thương. Nhiễm khuẩn bàn chân rất hay gặp ở người bệnh tiểu đường týp 2 và dễ dẫn đến những tàn phế nặng nề.

Làm sao biết chân tổn thương?
Trong số những người mắc bệnh tiểu đường, đàn ông hay bị tổn thương chân hơn phụ nữ, có thể do phụ nữ chăm chút vệ sinh chân tốt hơn. Có không ít trường hợp bàn chân tổn thương do tiểu đường bất ngờ đứt lìa khi đang đi đứng, nằm ngủ… do người bệnh không phát hiện và điều trị kịp thời. Về nguyên tắc, có thể nhận diện được những tổn thương này qua những dấu hiệu sau:
Giảm hoặc mất hoàn toàn cảm giác đau: ngón chân bị tê, lạnh; đau các khối cơ khi vận động nhiều (chạy bộ, đi bộ nhiều); bàn chân biến dạng, các ngón chân quặp lại, đầu xương ngón chân cụp xuống; tư thế bàn chân trở nên không khớp với giày dép thông thường.

Xuất hiện các cục chai, cứng: ở gót chân, phía ngoài cạnh ngón út hoặc phía trong cạnh ngón cái. Lưu lượng máu ở bàn chân bị tổn thương gia tăng, mạch ở những nơi này đập mạnh, khi nằm các tĩnh mạch nổi phồng lên.
Loét lòng bàn chân: diễn biến thường từ giảm cảm giác đau, giảm khả năng chịu lực. Kế đó da ở vùng chịu sức ép tiếp xúc dày lên, hình thành bọng nước tại các điểm chịu sức ép. Các bọng nước này khi vỡ ra dễ bị viêm, dẫn đến phá hủy mô xung quanh, gây hoại tử và làm các vết loét nhiễm khuẩn.
Bàn chân của người bệnh tiểu đường còn có thể bị sưng phù do suy hệ tĩnh mạch và suy tim, làm viêm loét nặng thêm.

Không tùy tiện mang giày dép, vớ
Người bệnh tiểu đường không được đi chân không, bất kể trong nhà hay ngoài đường. Nên thay đổi giày dép thường xuyên để làm giảm các vùng chịu lực. Đối với giày mới mua, mỗi ngày chỉ nên đi một ít để quen chân. Mang giày đế bằng, tránh mũi nhọn hay cao gót hoặc có đế cao hơn 2,5cm. Ngoài ra khi mang giày, bắt buộc phải mang vớ, nếu không chính đôi giày sẽ lại gây tổn thương. Nên dùng loại vớ vừa chân, bằng cotton hoặc sợi tổng hợp (không dùng vớ nilông hay loại bằng thun co dãn). Tuyệt đối không đi các loại vớ quá chật, bó sát chân. Luôn đi vớ dài hơn ngón chân dài nhất từ 1 – 2cm để tránh ép chặt bàn chân, gây giảm tuần hoàn máu. Phải luôn đi vớ nếu bàn chân bị lạnh.

Kiểm tra hàng ngày: thường xuyên kiểm tra bề mặt da để phát hiện sớm bất kỳ tổn thương nào ở bàn chân như các vết thương tấy đỏ, sưng phồng; các vết đứt hoặc trầy xước, vết rách da, bầm tím, phỏng rộp, vết loét, cục chai, mắt cá, mụn cóc, móng quặp, phồng nước... Không chích, lễ nếu không đảm bảo vô trùng. Không tự ý cắt các cục chai. Nếu thấy có vết thương cần đi khám ngay.

Giữ da sạch và khô: rửa chân hàng ngày bằng nước ấm và xà phòng nhẹ, không ngâm chân lâu quá năm phút. Dùng xà phòng rửa chân loại nhẹ ít chất xút, nhiều chất giữ ẩm da, ít mùi thơm và ít bọt. Xả nước thật sạch để tránh đọng xà phòng gây kích ứng da. Lau khô nhẹ nhàng, không cọ xát mạnh. Chú ý lau kỹ những nơi dễ đọng nước như kẽ ngón chân, móng chân. Không nên tắm nước nóng lâu vì có thể gây bỏng do cảm giác da của người bệnh tiểu đường đã suy giảm (nên tắm nước ấm không quá 35ºC). Khi bị lạnh ban đêm cần mang vớ trước khi đi ngủ. Nếu bàn chân dễ đổ mồ hôi, có thể giữ khô chân bằng các loại phấn thông thường trước khi mang vớ, giày.

Vệ sinh móng chân, vết thương: không cắt móng chân sát thịt quá, không lấy khóe. Với các móng chân dày và biến dạng, cẩn thận khi cắt tỉa. Không tự loại bỏ các nốt chai sần ở chân mà không có bác sĩ giám sát. Khi bị trầy xước da (kể cả lúc cắt móng chân, tay), cần rửa chân sạch bằng xà phòng, thoa dung dịch sát trùng Povidone Iodine, rồi băng lại bằng băng cá nhân hay gạc vô trùng.

Ngoài những cách chăm sóc bàn chân trên, người bệnh tiểu đường nên uống nhiều nước. Cần uống hơn 1,5 lít nước/ngày để bù đắp lượng nước thiếu hụt và giúp da luôn khỏe mạnh. Không nên hút thuốc lá, vì sẽ làm teo hẹp thêm các mạch máu ở chân vốn đã bị hẹp và xơ cứng lại trong bệnh tiểu đường.

Xem thêm…

Copyright
Điều trị bệnh tiểu đường